benchmarking1.1/ Khái niệm Benchmarking.
Lịch sử của Benchmarking như chúng ta được biết nó vào ngày hôm nay đó là một bản vắn tắt các mối liên quan, vào năm 1982 tôi đến Rochestre , New York để tham dự một cuộc hội nghị của tập đoàn Xerox về cuộc huấn luyện và chuyên gia phát triển tổ chức. Thời kỳ Benchmarking cạnh tranh được sử dụng trong buổi thảo luận về lổ hổng trình diển rất lớn mà Xerox đã nhận thấy trong mối lien hệ các đối thủ của nó. Tiêu chuẩn đặc biệt của phương pháp hoặc dụng cụ đo lường trong lĩnh vực như là giá trị sản phẩm, vòng luân chuyển, giá trị gia tăng, giá trị bán lẻ và ấn tượng sản phẩm được nhận dạng và buổi trình diễn của Xerox được xếp trong mối quan hệ với các trưởng phòng thị trường của công ty đối thủ cho những phương pháp đó, thông tin này không được tốt lắm, những điều mà trong buổi tham dự thì không đúng với những thông tin mà chúng tôi đã được xem lại. Tuy nhiên, hầu hết đều gây ấn tượng với tiến trình được sử dụng để tìm ra phương pháp chính, tập trung thông tin về các công ty khác và sự xuất hiện của tài liệu phát hiện trong một văn bản được quan tâm đặc biệt

Tôi cứ tưởng thời kỳ Benchmarking cạnh tranh mới đối với chúng tôi nhưng sau khi trơ về văn phòng của tôi ở California. Tôi nhận ra rằng thời kỳ đó mới mẻ đối với tất cả mọi ngưòi tham dự trong buổi huấn luyện và phát triển đó, khi tôi giải thích khái niệm và mục đích của Benchmarking thì tác động đầu tiên thường là một trong những quá trình nhận diện như là một sự cạnh tranh khôn ngoan được tập hợp lại. Nhưng khi tôi tiếp tục giải thích thời kỳ đó thì hai khía cạnh của Benchmarking đánh vào người tham dự. Đầu tiên Benchmarking là một quá trình mà có thể sử dụng để hiểu không chỉ cho một công ty đối thủ mà còn cho những tổ chức khác, đối thủ hoặc phi đối thủ, lớn hoặc nhỏ, nhà nước hoặc tư nhân, ngoại hay nội. Chìa khoá là để cô lập phương pháp chung trong những chức năng tương tự (như sản xuất ,thiết kế ,thì trường tài chính)và so sánh với một doanh nghiệp thực tế với những tổ chức mà chính nó được thiết lập như là một tiên phong hay đổi mới trong chức năng kinh doanh đặc biệt. Ý kiến xuất sắc này có khả năng làm được, nếu ví dụ một công ty chấp nhận thực tế mà hoạt động đặc biệt như là việc thanh toán là một thực tế chung trong bat kì tổ chức đặc biệt nào, sau đó cũng sẽ tồn tại một vài thanh toán truyền thống áp dụng có thể được nhìn nhận và đo lường trong bất kỳ các tổ chức nào .thêm nữa ,nếu một công ty có thể đầu tư gía trị thanh toán của những tổ chức mà được thiết lập rất bình đẳng trong việc áp dụng thanh toá,sau đó công ty này có thể có khả năng so sánh với những thanh toán truyền thống này được thực hiện trong chính tổ chức đó. Một công ty học được một vài điều từ công ty khác coi như xem trọng áp dụng những thanh toán quá xuất sắc của nó. Ý kiến việc học này trong áp dụng kinh doanh của các tổ chức khác không gây sốc và phiền đến ai. Cái mà gây ra cho mọi người hoạt động lại như một thực tế rằng việc đầu tư này có thể được hướng dẫn trong nhiều nền tảng mở rộng và hệ thống .

Khía cạnh thứ hai của Benchmarking cũng gây cho mọi người chú ý ,vào lúc này sự khôn ngoan cạnh tranh tập trung 1 cách truyền thống tập trung hầu hết các phương pháp lợi nhuận hoặc hoàn thành sản phẩm. Những khái niệm như là thiết kế hồi lưu và sự so sánh các sản phẩm sít sao rất dễ hiểu, với Benchmarking tập trung vượt qua các giá thiết bị hoàn thành sản phẩm hay cung cấp để tập trung mở rộng các tiến trình vấn đề .ấn tượng không chỉ trong các tổ chức khác là sản xuất cái gì mà còn là sản phẩm và cung cấp để được thiết kế, sản xuất, thị trường, phục vụ như thế nào. Thực tế tổ chức có thể được quan tâm cho việc đầu tư dựa trên một quá trình xuất sắc, không chỉ sản phẩm hay dịch vụ xuất sắc. Đó là một khái niệm cơ bản đối với nhiều người. Tiến trình đó là một giai đoạn mà gợi ý liên hợp và công việc trung tâm, ngay cả các tiến trình mà trong đó các công ty được gia hạn với hàm ý liên hợp và làm việc thân mật ,ngay cả những tiến trình với chính những tổ chức của công ty đó thường che giấu trong sự đầy ý nghĩa và bí ẩn .làm thế nào mà một người nào đó ngay cả gánh vác một chủ đề đầu tư với một người đứng ngoài cuộc ?.bên cạnh đó để thật sự hiểu được tiến trình , công ty phải thiết lập đường dây quan hệ với các tổ chức khác ,kiểm tra 1 cách đơn giản sản phẩm hoặc dich vụ từ xa sẽ cung cấp 1 trình độ bán lẽ để hiểu thông suốt hoạt động của tổ chức. Benchmarking là một lối thực hiện nào đó mà nó thân mật hơn phương pháp tập trung cạnh tranh truyền thống xuất sắc .thực tế sự mở cửa là tinh thần cộng tác (có thể nói vậy) giữa tổ chức có thể so sánh nơi thị trường. Tôi biết rằng sau đó mẫu thông tin tập trung và các ứng dụng tổ chức thay đổi có ý nghĩa. Xerox tiếp tục phát triển khái niệm Benchmarking cạnh tranh trong suốt thập niên 80, thiết lập ,huấn luyện bình thường về vấn đề và giới thiệu khái niệm đến những cái khác qua khách hàng ,cung ứng mẫu báo cáo được viết bởi nhân viên Xerox ,liên hệ với sự hổ trợ chuyên nghiệp .các công ty khác như là GTE bắt đầu sữ dụng khoảng thời gian sớm hơn là năm 1983 nhưng vẫn chưa được gì cho đến cuối thập niên 80 thì Benchmarking thật sự đánh mạnh vào tiến độ điều đặn của nó .cho đến tận thời gian đó thì số bài báo viết về vấn đề đó tổng cộng ít hơn 30 và có một vài chuyên môn trong việc thực hành Benchmarking cugn như tư vấn và xếp hạng học viên .2 vấn đề có ý nghĩa thay đổi tất cả .

Một công ty được sự giới thiệu của giải thưởng uy tín quốc gia Malcolm Baldrige .hoạt động cải tiến chất lượng cấp quốc gia Malcolm Baldrige vào năm 1987 luật nhân dân 100-107 ,.được ký kết bởi tổng thống Reagan vào 20-8-1987 và được lập nên giải thưởng uy tín cấp quốc gia hằng năm .mục đích của giải thưởng là cải tiến chất lượng sự phát thưởng để nhận ra giá trị thành công của công ty Mỹ,và để cộng đồng hoá chiến lược chất lượng thành công .giải thưởng Malcolm Baldrige bao gồm 7 loại mỗi loại trong những loại đó bao gồm khu vực đặc biệt để đánh dấu rằng sự đồng nhất chất lượng hoạt động mà tiến trình chủ yếu là được trao tặng bởi ban tổ chức giải thưởng .một công ty phát hành tăng bởi giải thưởng Malcolm Baldrige là một loại so sánh bên ngoài .những người sử dụng của tiêu chuẩn là khuyến khích sự quan tâm tự nhiên và áp dụng hiệu quả chất lượng và kết quả của họ trong mối quan hệ của các tổ chức khác mà được nguyên cứu một cách đơn giản như “nỗi trội trong nhóm “hay “nhóm toàn cầu “(nhóm liên hiệp các công ty Malcolm Baldrige không quá mạo hiểm để nhận ra những tổ chức này hoặc là tìm ra họ hoặc họ bằng cách nào ,nhưng đó là chuyện khác ).vì vậy người sử dụng tiêu chuẩn là dứt khoát khẩn cấp để so sánh ứng dụng chất lượng của họ không chỉ với đối thủ mà còn với bất kỳ tổ chức nào khác mà đã thành công đáng chú ý xuất sắc trong tiến trình hay kết quả .điều trở ngại của lời khuyên đó là đường lối hướng dẫn không chuyên môn hoá bất kỳ phương pháp nào trong việc làm được cho đến năm 1991 .đến năm 1991 sự ứng dụng giải thưởng và đường lối hướng dẫn được phát hành ,sự bổ sung quan trọng làm nên bởi thuật ngữ Malcolm Baldrige .dưới loại thông tin và ứng dụng kí hiệu 2.2 được đặt đề tựa “cạnh tranh so sánh và Benchmarking ” .sự miêu tả của kí hiệu này được đọc là “miêu tả sự bắt kịp của công ty “để tập trung chất lượng quan hệ sự so sánh cạnh tranh và nhóm toàn cầu Benchmarking để cung cấp kế hoạch có chất lượng ,sự tiến triển và cải tiến “ấn tượng mạnh mẽ về Benchmarking được lặp lại hơn 5 lần trong năm 1991 đường lối hướng dẫn trong tác động cải tiến tiếp tục nỗ lực tốt đẹp hơn về sản phẩm ,kết quả chất lượng phục vụ và quyết định sự hài lòng của khách hàng .

An tượng của sự so sánh tiến trình và kết quả kích thích mối quan tâm chưa từng có của Benchmarking ,tổ chức quan trọng về đường lối hướng dẫn Malcolm Baldrige hoặc ứng dụng giải thưởng được kích thích để học bởi các vấn đề và được khám phá bất kỳ nguồn gốc mà có thể có giá trị để giúp đỡ họ thực hiện Benchmarking chính xác .vấn đề là không có qúa nhiều hướng dẫn qui luật thực tế ,kiểu mẫu hoặc chuyên môn để có thể giúp họ hiểu và ứng dụng Benchmarking vào tổ chức của họ .

Sự kiện ý nghĩa khác mà tôi đề cập đã xuất hiện 2 năm gần đây vào năm 1989. Robert Camp kĩ sư và chuyên gia Logistics viết Benchmarking ,sự nguyên cứu ứng dụng công nghiệp tốt nhất là dẫn đầu trình diễn cao nhất trong khi anh ta mô tả chi tiết hoạt động Benchmarking trong vòng 7 năm của anh ta trong Xerox. Cuốn sách đề cập xung quanh 10 bước tiến trình Benchmarking của Xerox mà anh ta đã giúp đỡ để thiết kế và đưa ra công công bố. Cuốn sách của Camp bao gồm những ví dụ đặt biệt của Benchmarking trong lĩnh vực logic học và phân phối mà nó cung cấp cho người đọc những ví dụ hiển nhiên của tiến trình sữ dụng và các loại kết quả có thể được thành công .cuốn sách của Camp là chi tiết đầu tiên của sự mô tả Benchmarking trong hoạt động có gía trị của toàn bộ độc giả kinh doanh và nó nhanh chóng trở thành một cuốn sách bán chạy nhất giữa những người chịu trách nhiệm cho việc đầu tư hay phát hành Benchmarking trong tổ chức của họ .

Sự lan toả của cuốn sách Camp có thể không được lâu, đến năm 1989 tập đoàn Xerox (sản phẩm doanh nghiệp và phân phối hệ thống) được nhận một trong 2 giải thưởng Malcolm Baldrige duy nhất trong cả năm (chỉ có 3 công ty được ghi tên trong viện ưu tiên hằng năm).Vì vậy sẽ trở thành 1 trường hợp cho mỗi người thắng giải Malcolm Baldrige là chia sẽ thông tin trong chiến lược chất lượng và khuyến khích các công ty khác nâng cao chất lượng của ho. Xerox bây giờ đã có những độc giả háo hức tò mò muốn tìm hiểu thành công của công ty với “chiến dịch”chất lượng xuyên lãnh đạo .

Từ đầu thập niên 80, Xerox đã có những chức vụ truyền thống mà chiến dịch chất lượng của nó như một cái ghế 3 chân mà trong những các chân đó ,bạn đoán đi- đó chính là Benchmarking .Vì vậy hằng trăm thậm chí hàng ngàn người học tiến trình chất lượng của Xerox và nghe lời khuyên đúng đắn của Xerox ,nó trở nên rõ ràng rằng Benchmarking là một trong những chìa khoá dẫn đến thành công của nó. Thực tế, cuốn sách Camp đã có sẵn giá trị làm cho nó thành công tức khắc. Trên thực tế cuốn sách có thể là nguồn gốc sâu xa đầu tiên của các thông tin Benchmarking là điều kỳ diệu lớn đối với người đọc .

Một công ty sẽ nghĩ rằng đến năm 1991 thì cuốn sách ý nghĩa hoặc một chương trình huấn luyện khác được mở rộng giá trị được mong đợi của Benchmarking .bài báo mà đã xuất hiện trong toàn bộ giới kinh doanh và thương mại công chúng đã tiếp tục lặp lại những ví dụ giống nhau vượt qua chức năng Benchmarking dành cho đọc giả của họ .vì vậy ,mặc dù yêu thích Benchmarking trong một thời gian dài ,thông tin về vấn đề đặt biệt là khám phá được và nguyên cứu vẫn còn thiếu .

Sự thiếu hụt thông tin ,kiểu mẫu ,ví dụ và đường lối trở nên quá cận khi một doanh nghiệp kiểm tra tiến trình Benchmarking xảy ra trong ngày hôm nay .hầu như tiến trình Benchmarking có thể chỉ là một vết nhỏ của truyền thống trực tiếp đến công ty Xerox với kiểu mẫu gần với thập niên 80 hoặc 1 trong 2 sự bắt kịp mà nó xuất phát từ nguồn gốc 1 vài công ty tư vấn mặc dù cái lõi của vấn đề bắt kịp Benchmarking thì tương tự tự nhau ,hầu hết các tổ chức đang sử dụng tiến trình đã được cắt lọc quyết định của họ và sự bắt kịp để tuân theo và kích thích các kiễu mẫu hoặc chương trình trong môi trường của họ vì vậy việc bổ sung bước thứ 10 tiến trình của Benchmarking của công ty Xerox,bước thứ 9 là AT&T ,bước thứ 6 là ALCOA vế thứ 5 trong bước thứ 14 là IBM ,vế thứ 4 trong tiến trình là DEC và còn nhiều nữa .yêu cầu bên ngoài mới để cho tiêu chuẩn đánh giá sẽ là một áp lực lớn để cho sự xác định của tiến trình đánh giá tiêu chuẩn để cho ra sự xác định của tiến trình đánh giá tiêu chuẩn để đề nghị nhiều hơn một vài kiễu mẫu mà nó kích thích bên ngoài trong thế giới thật sự của Benchmarking .

(còn tiếp)